Huyện Tuy Đức là huyện biên giới ở phía Tây Nam tỉnh Đắk Nông; được thành lập ngày 22/11/2006 theo Nghị định số 142/2006/NĐ-CP của Chính phủ, trên cơ sở điều chỉnh 112.384ha diện tích đất tự nhiên và 23.238 nhân khẩu của huyện Đắk R'Lấp. Huyện chính thức ra mắt và đi vào hoạt động ngày 01.01.2007. Trung tâm huyện Tuy Đức cách thị xã Gia Nghĩa khoảng 50km, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 250km. Vị trí địa lý của huyện Tuy Đức: phía Đông giáp huyện Đắk Song; phía Tây giáp tỉnh Bình Phước; phía Nam giáp huyện Đắk R'Lấp và tỉnh Bình Phước; phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia.
 
Tuy Đức là một huyện mới được thành lập chỉ cách đây mấy năm, song vùng đất và con người đã tồn tại từ lâu, gắn liền với địa phương lân cận, với tỉnh Đắk Nông và cả vùng Tây Nguyên rộng lớn. Lịch sử xã hội và con người của huyện Tuy Đức ngày nay được phản ánh đầy đủ trong lịch sử chung của tỉnh Đắk Nông và các huyện mà trước đây bao gồm vùng Tuy Đức ngày nay.
 
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, kế thừa và phát huy truyền thống, bài học, kinh nghiệm của nhân dân trong vùng, với những điều kiện lịch sử, xã hội ngày nay, Tuy Đức sẽ nhanh chóng phát triển trong sự phát triển chung của tỉnh Đắk Nông, khu vực Tây Nguyên và cả nước.
 
Về địa hình, Tuy Đức nằm trên cao nguyên Đắk Nông, chủ yếu là đồi núi với độ cao trung bình 700 - 800m so với mực nước biển. Địa hình bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối dày đặc đầu nguồn của sông Đồng Nai, như sông Đắk R'Lấp, Đắk Búk So, Đắk Điơle… Hệ thống sông suối dày đặc cũng là nguồn cung cấp nước dồi dào cho sản xuất và sinh hoạt của người dân nơi đây. Tuy Đức có hệ thống rừng nguyên sinh với nhiều loài gỗ và động vật quý hiếm như voi, hổ, báo, gấu… Ngoài ra, Tuy Đức cũng có một số khoáng sản trong lòng đất, đáng kể nhất là quặng bôxit với trữ lượng tương đối lớn. Tổng diện tích tự nhiên của huyện Tuy Đức là 112.384ha; đất đai chủ yếu là đất đỏ bazan thuận lợi cho trồng cây công nghiệp và phát triển rừng.
 
Khí hậu Tuy Đức có những đặc điểm chung của khí hậu Đắk Nông, mang tính chất nhiệt đới với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, tập trung hơn 80% lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa không đáng kể, độ ẩm thấp. Tổng lượng mưa cả năm khoảng 2.000 - 2.500mm. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 - 23oC, cao nhất 35oC, thấp nhất 14oC.
 
Địa bàn huyện Tuy Đức gồm 6 đơn vị hành chính cấp xã: Đắk Ngo, Quảng Tân, Đắk Búk So, Đắk R'Tih, Quảng Tâm, Quảng Trực; với 25 bon và 23 thôn. Trong đó có 2 xã mới tách là Đắk Ngo và Quảng Tâm; có 2 xã biên giới là Đắk Búk So và Quảng Trực. Có đường biên giới dài khoảng 42km, giáp huyện Ô Rang, tỉnh Munđunkiri của Vương quốc Campuchia.
 
Huyện Tuy Đức có 6.865 số hộ với 31.636 nhân khẩu, gồm 17 dân tộc chung sống, chủ yếu là dân tộc Kinh (4.034 hộ, với 16.909 nhân khẩu) và dân tộc M'Nông. Trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số có 2.831 hộ với 14.727 nhân khẩu, chiếm 47,2% dân số của huyện.
 
Công tác văn hóa, xã hội trên địa bàn Tuy Đức trong thời gian qua có nhiều điểm tiến bộ trên một số lĩnh vực, góp phần từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc trong huyện.
 
Văn hóa tiếp tục đẩy mạnh phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư", từng bước hoàn thiện các thiết chế văn hóa từ huyện đến xã, thôn, bon. Phấn đấu đến năm 2013, tất cả các xã có bưu điện văn hóa xã, có đội văn nghệ; 90% bon đồng bào dân tộc tại chỗ và 60% thôn, bản dân tộc khác có nhà văn hóa cộng đồng. Thực hiện phát thanh và phủ sóng truyền hình bằng tiếng M'Nông theo chủ trương của Chính phủ. 100% xã có hệ thống truyền thanh, trên 90% hộ được nghe đài truyền thanh và xem truyền hình; đạt 3 - 5 máy điện thoại cố định/100 dân. Chú trọng bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của từng dân tộc trên cơ sở tôn trọng tiếng nói, chữ viết, phong tục, tập quán, lễ hội truyền thống lành mạnh. Tích cực giao lưu văn hóa giữa các dân tộc thông qua các hình thức lễ hội, hội diễn... Thực hiện xã hội hóa hoạt động văn hóa - văn nghệ, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Phát triển mạng lưới thông tin, phát thanh, truyền hình, báo chí đến tận thôn, bon.



 
 
Công tác giáo dục và đào tạo đã nhanh chóng khắc phục những khó khăn trước mắt về cơ sở vật chất của hệ thống trường học, chất lượng giáo dục và đào tạo từng bước được nâng cao. Đội ngũ giáo viên bước đầu được chuẩn hóa, chăm sóc giáo dục cho con em đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt được quan tâm. Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt trên 75% (số liệu năm học 2006 - 2007). Chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và phát triển cán bộ người dân tộc thiểu số được quan tâm đúng mức. Toàn huyện có 23 trường, với 299 lớp học, 8.116 học sinh. Trong đó, số học sinh dân tộc thiểu số chiếm gần 49% trong tổng số học sinh các cấp học, nhiều em đang theo học các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp ngoài tỉnh.
 
Trong thời gian tới, huyện chủ trương từng bước củng cố hệ thống giáo dục toàn diện, thống nhất từ Mầm non đến Trung học phổ thông; chú trọng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới; phấn đấu tất cả các xã đều có hệ thống giáo dục Mầm non, duy trì phổ cập Tiểu học và chống tái mù chữ trên toàn huyện. Phấn đấu hoàn thành phổ cập Trung học cơ sở trong toàn huyện. Từng bước thực hiện kiên cố hóa trường học, phấn đấu đến năm 2013 có trên 85% trẻ em trong độ tuổi đến trường; 34 học sinh trên một lớp học; trung bình cứ 4 người dân có 1 người đi học; có 4 - 5 trường đạt chuẩn quốc gia. Từng bước xây dựng nhà công vụ cho giáo viên vùng khó khăn, vùng biên giới của huyện. Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo các cấp, thực hiện chuẩn hoá 100% đội ngũ giáo viên kết hợp với nâng cao năng lực của cán bộ quản lí giáo dục. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào giáo dục, mở rộng hệ thống trường dân lập. Sớm xây dựng Trung tâm giáo dục thường xuyên của huyện để đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người, với mọi lứa tuổi. Mở rộng hình thức đào tạo chuyên môn - kĩ thuật theo hướng đa ngành đa nghề, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu của huyện.
 
Công tác dân số và việc làm huyện chủ trương đẩy mạnh truyền thông dân số, tiếp tục kiềm chế tốc độ tăng dân số tự nhiên, xây dựng gia đình chỉ có 1 đến 2 con, phấn đấu giảm tỉ lệ suất sinh hàng năm dưới 1%. Từng bước nâng cao chất lượng dân số và thực hiện phân bố lại dân cư trên các địa bàn. Đẩy nhanh các dự án ổn định dân di cư tự do. Quy hoạch và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các trung tâm cụm xã, các điểm dân cư tập trung. Lồng ghép các chương trình về dân số với các chương trình kinh tế - xã hội khác để từng bước cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm dần tỷ lệ lao động nông nghiệp sang các ngành công nghiệp, phi nông nghiệp và dịch vụ.
 
Công tác y tế, bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân được chú trọng. Mạng lưới y tế cơ sở được mở rộng, công tác khám chữa bệnh cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số được đặc biệt quan tâm, giải quyết nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân có nhiều tiến bộ.
 
Mục tiêu phấn đấu của huyện đến năm 2013 phát triển mạng lưới y tế cả về quy mô và chất lượng đến tận cơ sở, đặc biệt là các xã, thôn, bon. Khẩn trương xây dựng Bệnh viện đa khoa và Trung tâm y tế dự phòng huyện, nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Không ngừng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ở các tuyến điều trị. Thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình và bảo vệ sức khỏe sinh sản. Đa dạng hóa các loại hình chăm sóc sức khỏe, trong đó y tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Đẩy mạnh xã hội hóa ngành y tế, khuyến khích mở phòng khám tư nhân, cơ sở khám chữa bệnh có đủ các điều kiện về chuyên môn của ngành y và tuân thủ các quy định của pháp luật. Xóa bỏ những tập quán lạc hậu, chữa bệnh bằng cúng bái, tích cực tuyên truyền giáo dục nhân dân về vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh môi trường sống và vệ sinh an toàn thực phẩm.
 
Tuy mới chỉ thành lập trong một thời gian ngắn, hệ thống chính trị của huyện từng bước được kiện toàn, đi vào hoạt động có hiệu quả. Tình hình an ninh, chính trị được giữ vững và ngày càng ổn định. Đẩy mạnh xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân. Xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện, bảo vệ vững chắc tuyến an ninh biên giới, chống xâm nhập, vượt biên trái phép, không để xảy ra bạo loạn, biểu tình. Tăng cường xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định lâu dài. Tiếp tục củng cố, xây dựng lực lượng công an nhân dân - lực lượng xung kích, nòng cốt trên mặt trận bảo vệ anh ninh. Các dân tộc trên địa bàn huyện phát huy truyền thống đoàn kết cùng với nội lực và tiềm năng thế mạnh của địa phương, quyết tâm xây dựng huyện phát triển bền vững, mạnh mẽ về quốc phòng, an ninh.